Tài nguyên dạy học

Các ý kiến mới nhất

Hỗ trợ trực tuyến

Điều tra ý kiến

Bạn thấy trang này như thế nào?
Đẹp
Bình thường
Đơn điệu
Ý kiến khác

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Ảnh ngẫu nhiên

    Picture1.png Images.png Dong_ho_dep11.swf Images2.jpeg Movie1.flv WP_20140120_018.jpg WP_20140120_014.jpg DSC00252.jpg DSC00248.jpg DSC00261.jpg DSC002451.jpg DSC002441.jpg DSC00249.jpg DSC00251.jpg DSC002521.jpg DSC00246.jpg DSC00260.jpg DSC002391.jpg

    Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    Chào mừng quý vị đến với website của ...

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.

    12 con giap

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn: TỪ MÁY TÍNH
    Người gửi: Nguyễn Chí Thanh (trang riêng)
    Ngày gửi: 19h:39' 25-03-2012
    Dung lượng: 422.5 KB
    Số lượt tải: 39
    Số lượt thích: 0 người
    BỘ SƯU TẬP 12 CON GIÁP
    Sưu tầm
    Bí mật 12 con giáp
    Người xưa quan niệm Thiên là căn bản gốc, Địa là ngọn ngành. Lập ra Thiên can người xưa lấy số Dương của Hà Đồ (số lẻ) là 1, 3, 5, 7, 9, lấy số 5 ở giữa gấp đôi lên để bao hàm cả âm can (Ất, Đinh, Kỷ, Tân, Quý) và cả dương can (Giáp, Bính, Mậu, Canh, Nhâm), tất cả 10 can theo thứ tự Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý. Địa chi lấy số âm (số chẵn) là 2, 4, 6, 8, 10. Lấy số 6 ở giữa nhân gấp đôi để tạo thành 12 chi: Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi bao gồm cả dương chi (Tý, Dần, Thìn, Ngọ, Thân, Tuất) và âm chi (Sửu, Mão, Tỵ, Mùi, Dậu, Hợi).

    Thập can và Thập nhi chi phối hợp với nhau để sinh ra Lục thập hoa giáp (chu kỳ 60 năm gọi là Ngyên). Lịch can chỉ ở 3 đời Hạ, Thương, Chu (bên Trung Quốc) không giống nhau. Hiện nay dùng lịch pháp đời Hạ, tức lấy tháng Dần làm khởi đầu của năm.

    Việc tính giờ theo can chi cũng phần nào liên quan đến tập tính của các con vật.

    Tý (23-1 giờ): Lúc chuột đang hoạt động mạnh.
    Sửu (1-3 giờ): Lúc trâu đang nhai lại, chuẩn bị đi cày.
    Dần (3-5 giờ): Lúc hổ hung hãn nhất.
    Mão (5-7 giờ): Việt Nam gọi mèo, nhưng Trung Quốc gọi là thỏ, lúc trăng (thỏ ngọc) vẫn còn chiếu sáng.
    Thìn (7-9 giờ): Lúc đàn rồng quây mưa (quần long hành vũ).
    Rồng chỉ là con vật do con người tưởng tượng ra, chứ không có thực.

    Tỵ (9-11 giờ): Lúc rắn không hại người.
    Ngọ (11-13 giờ): Ngựa có dương tính cao.
    Mùi (13-15 giờ): Lúc dê ăn cỏ không ảnh hưởng tới việc cây cỏ mọc lại.
    Thân (15-17 giờ): Lúc khỉ thích hú.
    Dậu (17-19 giờ): Lúc gà bắt đầu lên chuồng.
    Tuất (19-21 giờ): Lúc chó phải tỉnh táo để trông nhà.
    Hợi (21-23 giờ): Lúc lợn ngủ say nhất.
     
    Gửi ý kiến